|
Kính thưa quý thính
giả rất quý mến,
Ngày 5 tháng 4 vừa
qua tôi đã về Việt Nam. Sau gần 4 năm điều hành Quỹ Từ
Thiện Teresa tôi thấy cần thiết phải về Việt Nam để xem
việc phân phối trợ cấp cho các cụ có tiến hành tốt đẹp
không? Số cụ nhận trợ cấp đã lên tới con số trên 10 ngàn
và số các địa điểm cũng đã lên tới con số gần 200. Tôi
thấy cần thiết phải về tận nơi để xem tình hình và từ đó
có những bước thích hợp kế tiếp.
Trước khi về tôi
cũng có nhiều nghi ngại sau muời mấy năm xa nhà nhưng
những người bạn thân cho tôi biết là nếu đã được cấp visa
thì sẽ không có gì phải lo. Truớc khi mua vé máy bay tôi
đã xin visa và đã được cấp vì thếù tôi mạnh dạn mua vé
máy bay. Tôi đã chuẩn bị tinh thần là sẽ quay trở về Mỹ
ngay nếu có trở ngại tại Phi Trường nhưng đã không có gì
xảy ra và thân nhân chờ đón tôi tại Phi trừờng Tân Sơn
Nhất đã rất ngạc nhiên thầy tôi ra cửa.
Tôi đã về căn nhà
nơi tôi đã sống và lớn lên từ hồi 10 tuổi tại đườøng Võ
Văn Tần Quận 3, sau khi làm thủ tục tạm trú bình tường tôi
đã bát đầu theo chương trình thăm các địa điểm đã định trước.
Trong suốt 3 tuần lễ tại Việt Nam tôi đã di Huế, từ Huế
về Nam, lên Ða Lạt xuống Bến Tre, đã có dịp gặp hầu hết
các vị phụ trách các địa điểm từ Quảng Trị tới Cà Mau gồm
các Ðức Tổng Giám Mục, Ðức Giám Mục, hàng trăm Linh Mục,
Nữ Tu, Thượng Tọa, Ðại Ðức, Ni Sư, Mục Sư, các thiện nguyện
viên. Ðiều khiến tôi yên tâm là tất cả các vị đã tỏ ra
rất nhiệt tình và hiểu rõ ý nghĩa công việc cũng như đã
làm đúng theo phương pháp điều hành đã được định ra, bảo
đảm việc trợ cấp cho các cụ được tận tay, đầy đủ và đúng
thời hạn.
Tôi đẵ được đi thăm
nhiều cụ từ đồng bằng cho đến miền núi, được vào tận nơi
các cụ ở , được hiểu rõ hoàn cảnh tmột số cụ. Tôi đã
thấy những giọt nước mắt lăn trên má, những khuôn mặt
chợït xúc động đổi thay, những bàn tay run run khi được
nhận 50.000 DVN tương đương với $3. Tôi đã được ở trong môi
trường các cụ sống, thời tiết nóng nực trên 39 độ C,
những căn phòng tối tăm, mùi hôi nồng của chỗ ở thiếu
vệ sinh.. Tôi đã gặp những cụ ở một mình, không ai săn
sóc. Có cụ nằm co quắp trong mùng bất động, có cụ đang
nhai những miếng gạo chứ không phải cơm vì được nấu trong
nồi bị lung, nửa sống nửa chin… Hiểu được những hoàn cảnh
như vậy tôi thấy rằng 10 ký gạo hàng tháng thật không
thấm vào đâu với nỗi khổ của các cụ. Tôi đã xin vị phụ
trách địa phương tìm ra giải pháp để giúp đỡ một cách hữu
hiệu những cụ có hoàn cảnh đặc biệt này. Sư Cô Phước
Thiện tại Phú Vang sau đó đã cho tôi biết là đã tìm được
người bảo mẫu hàng ngày nấu cơm mang lại cho mấy cụ bị
liệt tại địa phương này. Tôi sẽ lấy kinh nghiệm ở Phú Vang
để áp dụng cho các nơi khác. Ðiều quan trọng hơn miếng cơm
hàng ngày là sự hiện diện săn sóc cũng như biết rõ hoàn
cảnh các cụ trong từng ngày nếu không các cụ có mất đi
thì cũng chẳng ai biết để cứu giúp kịp thời vì các cụ này
sống có một mình thôi.
Một khi chưa có trợ
cấp của chính phủ như tại Mỹ thì chắc chắn là cuộc sống
của các cụ già ở Việt Nam sẽcòn rất khó khăn. Các cụ
già không còn sức lao động thì chỉ còn biết trông chờ vào
sự giúp đỡõ của người khác.Nếu con cái nghèo thì thật khổ
và nếu con cái không biết thương các cụ mà dày vò các cụ
thì không có nỗi khổ nào bằng. Tôi được nghe kể truyện
có cụ bị con cái nhốt ngoài đường không cho vào nhà. Có
những đìều không thể tưởng tượng đã xảy ra.
Kính thưa quý ân nhân,
sự quảng đại của quý vị thật là quý giá. Những đồng tiền
của quý vị cho đã đem lại an ủi và giúp đỡ thực tiễn cho
các cụ rất nhiều. Các tu sỹ đã thay quý vị đến tận nơi
các cụ già nghèo khổ để chuyển đến những trợ giúp kịp
thời. Xin đại diện các cụ cảm tạ lòng hảo tâm của quý vị.
Phó Tế Vũ Thành An
5-20-06

Với Ðức Giám Mục Ðà Lạt Nguyễn Văn
Nhơn

Với Ðức Tổng Giám Mục
Huế Nguyễn Như Thể

Với Ðức Giám Mục Bùi
Văn Ðọc và cha Hà Văn Xung, Mỹ Tho


Một chút quà mọn

Với các cha ở Cái Nhum

Với các cha ở Huế




Với các Ni Sư và Thượng
Tọa Thích Truyền Tứ

Ở Quảng Trị





Phà Rạch Miễu

Với các Sơ Cái Nhum

Ðưa các cụ đi uống Cà
Phê


Bên bờ sông Hương

Chỗ ngồi của 40 năm
trước-Nhà hàng Brodard
 |